DANH SÁCH CHƯ THÁNH TỬ ĐẠO

00:46 |

 image
1. – Năm 1963     ngày 11.6 (20.4 Quý Mão), Hòa Thượng Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt Sài gòn.
2. – Năm 1963     ngày 4.8, Đại Đức T. Nguyên Hương tự thiêu tại công trường Chiến sĩ, trước tĩnh đường Phan Thiết.
3. – Năm 1963     ngày 13.8 Đại Đức Thích Thanh Tuệ tự thiêu tại chùa Phước Duyên Huế.
4. – Năm 1963     ngày 15.8, Thích nữ Diệu Quang, tục danh Ngô Thị Thu Minh 27 tuổi, tự thiêu tại Ninh Hòa.
5. – Năm 1963     ngày 16.8, (27.6 Quý Mão), Thượng Tọa Thích Tiêu Diêu, 62 tuổi, tự thiêu tại chùa Từ Đàm Huế.
6. – Năm 1963     ngày 29.9, P.T. Hồng Thể, Thương phế binh, tự thiêu sau chùa Phước Lâm, Vũng Tàu.
7. – Năm 1963 ngày 5.10, Đại Đức Thích Quảng Hương, tự thiêu tại chợ Bến Thành, Ngồi kiết già trước cổng trường Diên Hồng, Sài gòn.
8. – Năm 1963   ngày 27.10 Đại Đức Thích Thiện Mỹ tự thiêu tại công trường Hòa Bình, Nhà thờ Đức Bà.
9. – Năm 1965   ngày 26.1, Phật tử Đoàn Thị Yến Phi 17 tuổi, nữ đoàn phó gia đình Phật tử tự thiêu tại Tòa hành chính tỉnh Khánh Hòa.
10. – Năm 1965 ngày 20.4, Sa Di Thích Giác Thành tự thiêu cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam, tại chùa Giác Vương tỉnh Gia Định.
11. – Năm 1966 ngày 29.5 (mùng 10.4 Bính Ngọ), Bà Hồ Thị Thiểu, Pháp danh Nguyên Sanh vị pháp thiêu thân vào 21 giờ 30 phút tại Việt Nam Quốc Tự.
12. – Năm 1966   ngày 30.5, Phật tử Nguyễn Thị Vân tự thiêu tại chùa ở thành Nội Huế.
13. – Năm 1966   ngày 5.5, âm lịch , P.T Đặng Thị Ngọc Tuyền tự thiêu tại Đà Lạt, Tuyên Đức.
14. – Năm 1966 ngày 1.6, Đại Đức Thích Thiện Huệ, Tục danh Nguyễn Lang 18 tuổi, tự thiêu tại Gò Giếng Nước Nóng tỉnh Khánh Hòa.
15. – Năm 1966   ngày 4.6, Đại Đức Thích Như Hải, vị pháp thiêu thân tại chùa Tỉnh Giáo Hội Quãng Trị.
16. – Năm 1966   ngày 4.6, Thích nữ Diệu Tri, tục danh Lê Thị Hiến, pháp danh Tâm Lương 27 tuổi, tự thiêu trước đài Quan Âm, tại Ni viện Diệu Quang Nha Trang.
17. – Năm 1966 ngày 17.6 Đào Thị Tuyết pháp danh Tâm Bạch, tự thiêu vào lúc 21 giờ 30 tại Việt Nam Quốc Tự.
18. – Năm 1966 ngày15.4 Bính Ngọ, Ni Cô Đỗ Thị Cửu pháp danh Nguyên Huệ tự Diệu Định 26 tuổi tự thiêu tại chùa Hải Lạc ở Đà Nẵng.
19. – Năm 1966   ngày 23.6 (5.5 Pl 2510) Phật tử Đào Thị Ngọc Tuyền vị pháp thiêu thân.
20. – Năm 1966 ngày …, Đại Đức Thích Huệ Hồng tự thiêu trước Tổng Vụ Thanh Niên đường Công Lý Sài gòn.
21. – Năm 1966   ngày 9.4 âm lịchThích nữ Thanh Quang tự thiêu tại chùa Diệu Đế Huế.
22. – Năm 1966   ngày 30.8, nữ sinh P.T. Nguyễn Thị Huê tự thiêu tại Việt Nam Quốc Tự.
23. – Năm 1967 ngày 16.5 (mồng 8.4 Phật Đản 2511), bắt đầu khai mạc tuần lễ “cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam” của G.H.P.G. V.N.T.N tại chùa Ấn Quang, Phật tử Nhất Chi Mai tự thiêu tại chùa Từ Nghiêm đường Bà Hạt Cholon, để cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam.
24. – Năm 1967   ngày 3.10, Thích nữ Trí Túc, tục danh Lê Thị Hậu, tự thiêu tại chùa Bảo An Cần Thơ (Phong Dinh) để bảo vệ Hiến chương G.H.P.G.V.N.T.N. và cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam.
25. – Năm 1967   ngày 8.10 Thích nữ Trí Chơn, tục danh Nguyễn Thị Ngọc, sanh năm 1917 (54 tuổi) tự thiêu tại chùa Quan Âm, Sa Đéc, để bảo vệ Hiến chương G.H.P.G.V.N.T.N.
26. – Năm 1967 ngày 22.10 Thích nữ Huệ Lạc, tục danh Lê Thị Nghiêm, sanh năm 1945 (22 tuổi) tự thiêu tại chùa Viên Giác tỉnh Gia Định để bảo vệ Hiến chương.
27. – Năm 1967   ngày 31.10 Đại Đức Thích Hạnh Đức, tục danh Trần Văn Minh, sanh năm 1947 (20 tuổi) tự thiêu tại Quãng Ngãi để bảo vệ Hiến chương.
28. – Năm 1967   ngày 1.11, Thích nữ Thông Huệ, tục danh Nguyễn Thị Lộc Đài, sanh năm 1937 (30 tuổi) tự thiêu tại Nha Trang để bảo vệ Hiến chương.
29. – Năm 1969   ngày 25.12 (17.11 Kỷ Dậu, Vía Phật A Di Đà), Phật tử Lê Văn Mỹ 68 tuổi, Pháp danh Chơn Thiện tự thiêu tại Đà Nẵng.
30. – Năm 1970 ngày 4.6, Ni cô Khất sĩ Liên Tập, tục danh Lê Thị Gái, tự thiêu tại Ninh Thuận để cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam.
31. – Năm 1970 ngày 10.6 Đại Đức Thiện Lai, tục danh Bùi Đình Tầng 74 tuổi, tự thiêu trước chùa Phổ Quang, Phú Nhuận để cầu nguyện Hòa Bình Việt Nam.

32. – Trước năm 1963, Đại Đức Thích Viên Quang, trụ trì chùa Kim Quang, xã Hà Thành, quận Sơn Hà, bị hạ sát trên đường từ chùa Kim Liên (xã Sơn Tây) đến Hà Thành.
33 – Năm 1965 ngày … Cư sĩ Phan Duy Trinh, huynh Trưởng gia đình Phật tử Thừa Thiên Huế, bị thảm sát và được phong Thánh Tử Đạo.
34 – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Đặng Văn Công 13 tuổi.
35 – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Trần Thị Phước Tự, 17 tuổi.
36. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Thị Yến 20 tuổi.
37. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Huỳnh Thị Tôn Nữ Tuyết Hoa 12 tuổi.
38. – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Lê Thị Kim Khanh 17 tuổi.
39 – Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Văn Đạt 13 tuổi.
40. –  Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Thị Ngọc Lan 12 tuổi.
41  Năm 1963, ngày Phật Đản 2507, Phật tử Nguyễn Thị phúc 15 tuổi.
(8 vị trên đây bị thảm sát tại Đài phát thanh Huế, đã phong Thánh Tử Đạo).
42.   Năm 1963 ngày 8.5 Quý Mão, Cư sĩ Hồ Thị Mùi bị thảm sát tại Huế.
43.. – Năm 1963 ngày 7.6 Quý Mão, Cư sĩ Nguyễn Tăng Chắc bị thảm sát tại Huế.
44. – Năm 1963 ngày 14.7 Quý Mão, Cư  Sĩ Hoàng Tuyết bị thảm sát tại Huế.
45.– Năm 1963 ngày 20.7 Quý Mão, Cư  Sĩ  Trần Du bị thảm sát tại Huế.
46.– Năm 1963 ngày 25.8 Quý Mão, Quách Thị Trang bị thảm sát tại chợ Bến Thành Sài gòn.
47.– Năm 1964 ngày 31.8 (24.7 Giáp Thìn), Phật tử  Nguyễn Văn Phát bị thảm sát tại Sài gòn.
48. – Năm 1964 ngày 1.9 (25.7 Giáp Thìn), Phật tử Phan Văn Hòa bị thảm sát tại Sài gòn.
49. – Năm 1966 ngày 1.3, Phật tử Nguyễn Văn Đức bị thảm sát tại Tuyên Đức.
50. – Năm 1966 ngày 21.4 Phật tử Nguyễn Văn Triệt bị thảm sát tại Tuyên Đức.
51. – Năm 1966 ngày 21.4, Phật tử Nguyễn Châu Kỳ bị thảm sát tại Tuyên Đức.
52.  Năm 1966 ngày 21.4, Phật tử Nguyễn Đoan Chánh bị thảm sát tại Tuyên Đức.
53.  Năm 1966 ngày 21.4, Phật tử Hoàng Văn Dậu bị thảm sát tại Tuyên Đức.
54.  Năm 1966 ngày 11.6, Cư sĩ Văn Bá Hoành, Đặc Ủy gia đình Phật tử Quận Duy Xuyên bị thảm sát tại Quảng Nam.
55.  Năm 1966 ngày 16.6 Phật tử  Đoàn Thanh Niên Thiện Chí Huỳnh Văn Thiện, bị bắn trước cửa Việt Nam Quốc Tự, đã được phong Thánh tử Đạo ngày 20.8.1967 (Rằm tháng 7).
56.  Năm 1966 ngày 12.7, Cư sĩ Nguyễn Dần, Chánh Đại diện GHPGVNTN quận Duy Xuyên bị chôn sống tại quận Duy Xuyên Quảng Nam.
57.   Năm 1966 ngày 27.3 AL, Cư Sĩ Nguyễn Đại Thức bị thảm sát tại Huế.
58.  Năm 1966 ngày ... Cư sĩ  Lê Đình Linh, Đặc Uỷ gia đình Phật tử Điện bàn Quảng Nam, bị bắt và mất tích tại Quảng Nam.
59. – Năm 1966 ngày …  Cư sĩ  Trịnh Văn Lộc bị mất tích tại Quãng Tín.
60. – Năm 1966 ngày …  Cư sĩ  Trương Dzu bị bắt và mất tích tại Quãng tín.
61.– Năm 1966 ngày …  Cư sĩ  Bùi Xuân Hiền bị thủ tiêu tại Quãng nam.
62.  Năm 1966 ngày …  Trung Uý Đào Quang Thống.
63.– Năm 1966 ngày …  Thượng Sĩ Chế Quang Khương.
64.  Năm 1966 ngày …  Trung Sĩ Bùi Mùi.
65.  Năm 1966 ngày …  Trung sĩ Nguyễn Cao Thiên.
66.  Năm 1966 ngày …  Binh nhất Võ Liên.
67.  Năm 1966 ngày …  Binh Nhất Nguyễn Đăng Quang.
68.  Năm 1966 ngày …  Binh Nhất Nguyễn Xin.
69.   Năm 1966 ngày …  Binh Nhì Nguyễn Thành.
70.   Năm 1966 ngày …  Phật tử Nguyễn Bá Lập (gia đình Phật tử).
71.  Năm 1966 ngày …  Phật tử Bùi Văn Kiểm (mất tích).(8 quân nhân và 2 Phật tử trên đây đều tranh đấu đòi Quốc Hội Lập Hiến do Giáo Hội chủ trương, bị chết tại Quãng Ngãi).
72.      Năm 1967 ngày 1.3, Cư sĩ Nguyễn Cúc, Chánh Đại Diện GHPGVNTN quận Duy Xuyên bị thủ tiêu tại Quãng Nam.
73.      Năm 1967 ngày 24.4, Giáo sư Trương Thị Phưộng Liên ở Đà Nẳng bị thảm sát tại Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội Gia định
74.      Năm 1967ngày 24.4Sinh viên Trần Thị Vui bị thảm sát tại Trường Thanh Niên Phụng sự Xã hội Gia định
75.       Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh Thích Tâm Thể (Nguyễn Nhứt Trí) bị mất tích tại xã Linh Đông quận Thủ Đức.
76.      Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh Thích Huyền Đắc (Nguyễn Văn Thành) mất tích tại Quận Thủ Đức, Gia Định.
77.      Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh Thích Minh Hoài (Diệp Quang Thành) mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.
78.      Năm 1967 ngày 14.6, Tăng sinh  Thích Tâm Minh (Lưu Quang Dũng) mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.
79.      Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Đinh Viết Dương mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.
80.      Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Nguyễn Trọng Ngành  mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.
81.  Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Nguyễn Khắc Quỳnh mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định.
82.  Năm 1967 ngày 14.6, Sinh viên Trần Văn Bỉnh mất tích tại Quận Thủ Đức Gia Định
83.  Năm 1967 ngày 5.7, Tăng sinh Thích Thanh Quang (Hồ Ngọc Tuấn) cán bộ trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.
84.  Năm 1967 ngày 5.7, Sinh viên Nguyễn Viết Tự Hy, cán bộ Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.
85.  Năm 1967 ngày 5.7, Sinh viên Lê Thế Linh tức Lành, cán bộ Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định
86.  Năm 1967 ngày 5.7, sinh viên Võ Văn Thi tức Thơ, cán bộ Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội bị thảm sát tại xã Hiệp Bình, Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định.
  (từ số 42 đến 55 cộng 14 người là nhân viên của Trường TNPSXH trong GHPGVNTN ở chùa Pháp Vân xã Phú Thọ Hòa, tỉnh Gia Định).
87.  Năm 1970 ngày 23.6, Đại Đức Thích Thiện Ân tịch tại bệnh viện Triều Châu vì bị bắn ngày 3.5.1970 tại Việt Nam Quốc Tự.
88.  Thượng Tọa Thích Thiện Lai tự thiêu, năm 1971 tại chùa Phổ Quang đường Cô Giang Phú Nhuận Gia Định để cầu nguyện Hòa Bình VN.
ĐUỐC TUỆ TỔNG HỢP TỪ INTERNET
Read more…

50 năm Pháp nạn 1963: Nhìn từ một vài ý kiến

20:32 |

Thích Thanh Thắng 
Hình ảnh: Thích Thanh Thắng 
 
Họ đã sống một cuộc đời đáng sống như thế! Còn chúng ta bây giờ thì sao, chỉ có tủi hổ không thôi, hay còn là rất hèn nữa?
Sau khi nhận được thông tin về cuộc Hội thảo khoa học do Trường Đại học KHXH&NV TP.Hồ Chí Minh và Học viện Phật giáo Việt Nam TP. Hồ Chí Minh “đồng chỉ đạo”, “đồng tổ chức”, và dự kiến đưa về một khu du lịch nào đó ở Bình Dương, cá nhân tôi đã cảm thấy rất thất vọng, vì Giáo hội đã không thể làm chủ được một hoạt động chính danh và chính nghĩa của mình. 
Cũng có ý kiến cho rằng, phải quyết định vội vàng như vậy, vì có ai “bật đèn xanh” cho đâu mà tổ chức, nên thà có tổ chức còn hơn không.
Tôi đã từng nêu ý kiến trước cuộc họp thường niên của Hội đồng Trị sự giữa năm 2012, tức cách đây gần 1 năm, rằng Giáo hội cần nên lưu ý tổ chức các sự kiện lớn của Giáo hội vào năm 2013, đặc biệt là kỷ niệm 50 năm Pháp nạn lịch sử và tố chức Đại lễ Phật đản cho xứng tầm.
Nhưng có lẽ do gần đến kỳ bầu bán nước rút của Đại hội Phật giáo toàn quốc, nên việc chung có quá ít người quan tâm, hay có quan tâm đi chăng nữa, nhưng sợ nói ra không biết ý tứ “cấp trên” thế nào, mà ảnh hưởng tới “sự nghiệp” của mình. 
Điều đáng nói, đối với những vụ sắp đặt nhân sự, một số người lại khẳng định, lần đầu tiên, Giáo hội được quyền tự quyết về mặt nhân sự, chính quyền không thể can thiệp vào việc “nội bộ” này.
Nghe thế, tôi vừa mừng, vì cái quyền tự quyết ấy “hùng tráng” quá, nhưng cũng lại vừa lo, vì có phải như thế không, hay “nói dzậy mà hổng phải dzậy”. 
Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao Giáo hội của chúng ta lâu nay cứ mãi luẩn quẩn với chuyện “có còn hơn không ấy”, theo kiểu nhận thức gạo nếp, gạo tẻ, gạo tấm, gạo cám, gạo nào thì cũng là gạo. Và một nỗi khổ nữa là không biết mình có quyền gì, được làm gì, nên cứ ám ảnh “đèn xanh, đèn đỏ”. 
Do cả tin vào “đèn” mà không biết đôi khi nó cũng bị chập điện, nhẽ ra phải bật đèn xanh để thông luồng thì lại nhảy đèn đỏ loạn cả lên, gây ngán ngẩm!
Xin quý vị bình tĩnh, tôi nói vậy để nhìn thẳng vào cái chung và cái riêng của cái quyền “tự quyết” ấy, để đứng trước sự kiện tổ chức 50 năm Pháp nạn lịch sử, người ta không thoái thác rằng, về việc bầu nhân sự, thì Giáo hội có toàn quyền “tự quyết”, còn về tổ chức 50 Pháp nạn lịch sử, thì không biết do đâu Giáo hội lại mất quyền “tự quyết”. 
Chết chửa, quyền “tự quyết” mà cũng biết đổi màu hay sao, hay vì cái riêng đều đã đạt mục đích hết cả rồi?
Tôi không nghĩ những người đứng đầu Nhà nước, hay quản lý nhà nước về mặt tôn giáo lại ấu trĩ tới mức không cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam được tổ chức sự kiện có ý nghĩa có một không hai này đối với Phật giáo Việt Nam và tăng ni Phật tử cả nước. Bởi một khi ngọn cờ chính nghĩa sáng ngời của một tôn giáo hộ quốc an dân, đồng hành cùng dân tộc, để cho người khác nắm và phất lên, thì bộ mặt của Giáo hội này biết phải giấu vào đâu?
Hơn nữa, bao nhiêu cái tốt đẹp của phong trào này thì Giáo hội cố gắng nhặt nhạnh, lấy làm niềm tự hào cho mình, từ hình ảnh sáng ngời của Bồ tát Thích Quảng Đức đến các phong trào xuống đường của tăng ni, Phật tử ở miền Nam trước 1975, nhưng đến lúc cần phải có một lời tri ân và báo ân cho nghiêm túc, đàng hoàng, đĩnh đạc thì giả đò quay mặt làm ngơ là cớ vì sao?
Tôi chỉ xin dẫn lại nguyên văn ý kiến của anh Nguyễn Kha trong bài viết “Thất vọng về hoạt động đầu tiên kỷ niệm 50 năm Pháp nạn lịch sử 1963” của anh Minh Thạnh:
“Xin các Thầy lãnh đạo Giáo hội đừng tổ chức những hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu, mở đầu cho cơn trở mình hùng tráng của Phật giáo VN sau gần 200 năm trời đắm chìm trong giấc ngủ mộng mị. Xin quý Thầy đừng làm gì hết vì sẽ có bên Công giáo và nhóm Phục hồi Tinh thần Ngô Đình Diệm làm dùm rồi. Xin quý Ngài cứ ngồi yên, hít vào thở ra và xây chùa, đợi đến ngày 1-11 năm nay, khi họ tổ chức tưởng niệm 50 năm ngày chế độ của họ bị lật đổ, họ sẽ nói về Phật giáo, về Thầy Quảng Đức... dùm cho chúng ta! Amen. Có một Phật giáo Việt Nam ở Việt Nam không, thưa quý Thầy Lãnh đạo?”.
“Có một Phật giáo Việt Nam ở Việt Nam không, thưa quý Thầy lãnh đạo?” là câu hỏi đau xót nhất vào thời điểm này. Còn việc Nhóm phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm “làm giùm”, thì lại không có gì mỉa mai hơn, bởi ai từng theo những dõi thông tin tràn ngập trên các trang mạng, thì thấy ngay, họ đang ra sức biến hình ảnh một bạo chúa, thành minh quân, thậm chí thành anh hùng của dân tộc.
Nhà nước không muốn Giáo hội tổ chức, hay thực tế chẳng phải vậy, mà do chúng ta đang cố tình vứt bỏ vai trò chính nghĩa của mình, để mặc cho “thần hồn nhát thần tính”, tự giăng lưới bủa vây mình và vẫn chỉ lòng vòng với chuyện xưa như trái đất: “đồng sàng dị mộng”? Nhạy cảm lắm, đụng vào “63” không khéo mất điểm, chả “thăng” tiếp được?
Ở đây, chúng ta lưu ý, có những dạng ý kiến ngụy luận lẻn vào diễn đàn này để tung hỏa mù, cho rằng tổ chức 50 năm Phán nạn 1963 là “chia rẽ dân tộc” (sic). 
Vậy Nhà nước tổ chức kỷ niệm giải phóng miền Nam là gì? Cần phải biết, tổ chức 50 năm Pháp nạn 1963 là nêu cao đạo lý ứng xử của dân tộc trên tinh thần từ bi, bất bạo động của Phật giáo, để cảnh tỉnh lương tâm mọi người đừng lặp lại những sai lầm tàn bạo, mất nhân tính đó. Lương tâm tôn giáo càng không cho phép tái diễn những cảnh tượng ấy.
Nhân đây, tôi cũng xin mạo muội dẫn lại thư của GS Cao Huy Thuần mới gửi cho tôi: “Từ năm ngoái tôi đã thỉnh cầu quý Thầy ở Huế phải tổ chức kỷ niệm 1963. Rồi từ mấy tháng nay tôi cố hết sức động viên quý Thầy, nhưng cho đến nay vẫn chưa động tĩnh gì. Chẳng lẽ “người ta” không cho thì mình cũng không dám kỵ giỗ cha mình? Tôi vừa đọc bài của tác giả Minh Thạnh. Làm sao thổi hơi sống cho quý vị, kẻo tủi hổ quá!”.
Thế đấy! Vì đâu “Gã cùng tử” chẳng dám thừa nhận người cha của mình? Cứ đọc lại lịch sử 1963 để biết, những con người đã đặt mình ra ngoài lẽ sinh tử thường tình, dấn thân cống hiến và làm rạng danh Phật giáo nước nhà, cũng mới chỉ ở cái tuổi gần 40. 
Hình ảnh đó được anh Nguyễn Kha ví rất hình tượng, rằng đó là một “cơn trở mình hùng tráng… sau gần 200 chìm đắm trong giấc ngủ mộng mị” của Phật giáo Việt Nam. Họ đã sống một cuộc đời đáng sống như thế! Còn chúng ta bây giờ thì sao, chỉ có tủi hổ không thôi, hay còn là rất hèn nữa?
Phải nói một cách thẳng thắn rằng, không ai (“người ta”) nào lại dại dột đến mức làm giảm uy phong, chính nghĩa của một Giáo hội đang đại diện cho tiếng nói của tăng ni, Phật tử cả nước, bằng hành động không đồng ý cho tổ chức kỷ niệm 50 năm phong trào 1963 như thế cả. 
Bởi bất kể chơi với người bạn nào, một khi đã đồng hành trên con đường gập ghềnh, dài xa, đầy gian nan thử thách phía trước, thì không chỉ dắt dìu, nương tựa nhau, mà còn phải biết khuyên bảo nhau cẩn thận nhớ đừng sử dụng gậy mục mà té ngã không đứng dậy được.
Vẫn biết nhận thức là cả một quá trình, nhưng tăng ni, Phật tử luôn cảm phục với những lãnh đạo Giáo hội biết nhìn thẳng vào sự thật mà sửa sai, biết quy tụ trí tuệ của tăng ni, Phật tử cho các Phật sự chung. 
Và để kết thúc bài viết này, một lần nữa tôi vẫn xin đặt ra câu hỏi: Cái quyền “tự quyết” rất “hoành tráng” và cũng rất “ồn ào” trước Đại hội Phật giáo toàn quốc đâu rồi? Có ai trả lời được giùm cho tăng ni, Phật tử cả nước biết hay không?

Họ đã sống một cuộc đời đáng sống như thế! Còn chúng ta bây giờ thì sao, chỉ có tủi hổ không thôi, hay còn là rất hèn nữa?
Sau khi nhận được thông tin về cuộc Hội thảo khoa học do Trường Đại học KHXH&NV TP.Hồ Chí Minh và Học viện Phật giáo Việt Nam TP. Hồ Chí Minh “đồng chỉ đạo”, “đồng tổ chức”, và dự kiến đưa về một khu du lịch nào đó ở Bình Dương, cá nhân tôi đã cảm thấy rất thất vọng, vì Giáo hội đã không thể làm chủ được một hoạt động chính danh và chính nghĩa của mình.
Cũng có ý kiến cho rằng, phải quyết định vội vàng như vậy, vì có ai “bật đèn xanh” cho đâu mà tổ chức, nên thà có tổ chức còn hơn không.
Tôi đã từng nêu ý kiến trước cuộc họp thường niên của Hội đồng Trị sự giữa năm 2012, tức cách đây gần 1 năm, rằng Giáo hội cần nên lưu ý tổ chức các sự kiện lớn của Giáo hội vào năm 2013, đặc biệt là kỷ niệm 50 năm Pháp nạn lịch sử và tố chức Đại lễ Phật đản cho xứng tầm.
Nhưng có lẽ do gần đến kỳ bầu bán nước rút của Đại hội Phật giáo toàn quốc, nên việc chung có quá ít người quan tâm, hay có quan tâm đi chăng nữa, nhưng sợ nói ra không biết ý tứ “cấp trên” thế nào, mà ảnh hưởng tới “sự nghiệp” của mình.
Điều đáng nói, đối với những vụ sắp đặt nhân sự, một số người lại khẳng định, lần đầu tiên, Giáo hội được quyền tự quyết về mặt nhân sự, chính quyền không thể can thiệp vào việc “nội bộ” này.
Nghe thế, tôi vừa mừng, vì cái quyền tự quyết ấy “hùng tráng” quá, nhưng cũng lại vừa lo, vì có phải như thế không, hay “nói dzậy mà hổng phải dzậy”.
Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao Giáo hội của chúng ta lâu nay cứ mãi luẩn quẩn với chuyện “có còn hơn không ấy”, theo kiểu nhận thức gạo nếp, gạo tẻ, gạo tấm, gạo cám, gạo nào thì cũng là gạo. Và một nỗi khổ nữa là không biết mình có quyền gì, được làm gì, nên cứ ám ảnh “đèn xanh, đèn đỏ”.
Do cả tin vào “đèn” mà không biết đôi khi nó cũng bị chập điện, nhẽ ra phải bật đèn xanh để thông luồng thì lại nhảy đèn đỏ loạn cả lên, gây ngán ngẩm!
Xin quý vị bình tĩnh, tôi nói vậy để nhìn thẳng vào cái chung và cái riêng của cái quyền “tự quyết” ấy, để đứng trước sự kiện tổ chức 50 năm Pháp nạn lịch sử, người ta không thoái thác rằng, về việc bầu nhân sự, thì Giáo hội có toàn quyền “tự quyết”, còn về tổ chức 50 Pháp nạn lịch sử, thì không biết do đâu Giáo hội lại mất quyền “tự quyết”.
Chết chửa, quyền “tự quyết” mà cũng biết đổi màu hay sao, hay vì cái riêng đều đã đạt mục đích hết cả rồi?
Tôi không nghĩ những người đứng đầu Nhà nước, hay quản lý nhà nước về mặt tôn giáo lại ấu trĩ tới mức không cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam được tổ chức sự kiện có ý nghĩa có một không hai này đối với Phật giáo Việt Nam và tăng ni Phật tử cả nước. Bởi một khi ngọn cờ chính nghĩa sáng ngời của một tôn giáo hộ quốc an dân, đồng hành cùng dân tộc, để cho người khác nắm và phất lên, thì bộ mặt của Giáo hội này biết phải giấu vào đâu?
Hơn nữa, bao nhiêu cái tốt đẹp của phong trào này thì Giáo hội cố gắng nhặt nhạnh, lấy làm niềm tự hào cho mình, từ hình ảnh sáng ngời của Bồ tát Thích Quảng Đức đến các phong trào xuống đường của tăng ni, Phật tử ở miền Nam trước 1975, nhưng đến lúc cần phải có một lời tri ân và báo ân cho nghiêm túc, đàng hoàng, đĩnh đạc thì giả đò quay mặt làm ngơ là cớ vì sao?
Tôi chỉ xin dẫn lại nguyên văn ý kiến của anh Nguyễn Kha trong bài viết “Thất vọng về hoạt động đầu tiên kỷ niệm 50 năm Pháp nạn lịch sử 1963” của anh Minh Thạnh:
“Xin các Thầy lãnh đạo Giáo hội đừng tổ chức những hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu, mở đầu cho cơn trở mình hùng tráng của Phật giáo VN sau gần 200 năm trời đắm chìm trong giấc ngủ mộng mị. Xin quý Thầy đừng làm gì hết vì sẽ có bên Công giáo và nhóm Phục hồi Tinh thần Ngô Đình Diệm làm dùm rồi. Xin quý Ngài cứ ngồi yên, hít vào thở ra và xây chùa, đợi đến ngày 1-11 năm nay, khi họ tổ chức tưởng niệm 50 năm ngày chế độ của họ bị lật đổ, họ sẽ nói về Phật giáo, về Thầy Quảng Đức... dùm cho chúng ta! Amen. Có một Phật giáo Việt Nam ở Việt Nam không, thưa quý Thầy Lãnh đạo?”.
“Có một Phật giáo Việt Nam ở Việt Nam không, thưa quý Thầy lãnh đạo?” là câu hỏi đau xót nhất vào thời điểm này. Còn việc Nhóm phục hồi tinh thần Ngô Đình Diệm “làm giùm”, thì lại không có gì mỉa mai hơn, bởi ai từng theo những dõi thông tin tràn ngập trên các trang mạng, thì thấy ngay, họ đang ra sức biến hình ảnh một bạo chúa, thành minh quân, thậm chí thành anh hùng của dân tộc.
Nhà nước không muốn Giáo hội tổ chức, hay thực tế chẳng phải vậy, mà do chúng ta đang cố tình vứt bỏ vai trò chính nghĩa của mình, để mặc cho “thần hồn nhát thần tính”, tự giăng lưới bủa vây mình và vẫn chỉ lòng vòng với chuyện xưa như trái đất: “đồng sàng dị mộng”? Nhạy cảm lắm, đụng vào “63” không khéo mất điểm, chả “thăng” tiếp được?
Ở đây, chúng ta lưu ý, có những dạng ý kiến ngụy luận lẻn vào diễn đàn này để tung hỏa mù, cho rằng tổ chức 50 năm Phán nạn 1963 là “chia rẽ dân tộc” (sic).
Vậy Nhà nước tổ chức kỷ niệm giải phóng miền Nam là gì? Cần phải biết, tổ chức 50 năm Pháp nạn 1963 là nêu cao đạo lý ứng xử của dân tộc trên tinh thần từ bi, bất bạo động của Phật giáo, để cảnh tỉnh lương tâm mọi người đừng lặp lại những sai lầm tàn bạo, mất nhân tính đó. Lương tâm tôn giáo càng không cho phép tái diễn những cảnh tượng ấy.
Nhân đây, tôi cũng xin mạo muội dẫn lại thư của GS Cao Huy Thuần mới gửi cho tôi: “Từ năm ngoái tôi đã thỉnh cầu quý Thầy ở Huế phải tổ chức kỷ niệm 1963. Rồi từ mấy tháng nay tôi cố hết sức động viên quý Thầy, nhưng cho đến nay vẫn chưa động tĩnh gì. Chẳng lẽ “người ta” không cho thì mình cũng không dám kỵ giỗ cha mình? Tôi vừa đọc bài của tác giả Minh Thạnh. Làm sao thổi hơi sống cho quý vị, kẻo tủi hổ quá!”.
Thế đấy! Vì đâu “Gã cùng tử” chẳng dám thừa nhận người cha của mình? Cứ đọc lại lịch sử 1963 để biết, những con người đã đặt mình ra ngoài lẽ sinh tử thường tình, dấn thân cống hiến và làm rạng danh Phật giáo nước nhà, cũng mới chỉ ở cái tuổi gần 40.
Hình ảnh đó được anh Nguyễn Kha ví rất hình tượng, rằng đó là một “cơn trở mình hùng tráng… sau gần 200 chìm đắm trong giấc ngủ mộng mị” của Phật giáo Việt Nam. Họ đã sống một cuộc đời đáng sống như thế! Còn chúng ta bây giờ thì sao, chỉ có tủi hổ không thôi, hay còn là rất hèn nữa?
Phải nói một cách thẳng thắn rằng, không ai (“người ta”) nào lại dại dột đến mức làm giảm uy phong, chính nghĩa của một Giáo hội đang đại diện cho tiếng nói của tăng ni, Phật tử cả nước, bằng hành động không đồng ý cho tổ chức kỷ niệm 50 năm phong trào 1963 như thế cả.
Bởi bất kể chơi với người bạn nào, một khi đã đồng hành trên con đường gập ghềnh, dài xa, đầy gian nan thử thách phía trước, thì không chỉ dắt dìu, nương tựa nhau, mà còn phải biết khuyên bảo nhau cẩn thận nhớ đừng sử dụng gậy mục mà té ngã không đứng dậy được.
Vẫn biết nhận thức là cả một quá trình, nhưng tăng ni, Phật tử luôn cảm phục với những lãnh đạo Giáo hội biết nhìn thẳng vào sự thật mà sửa sai, biết quy tụ trí tuệ của tăng ni, Phật tử cho các Phật sự chung.
Và để kết thúc bài viết này, một lần nữa tôi vẫn xin đặt ra câu hỏi: Cái quyền “tự quyết” rất “hoành tráng” và cũng rất “ồn ào” trước Đại hội Phật giáo toàn quốc đâu rồi? Có ai trả lời được giùm cho tăng ni, Phật tử cả nước biết hay không?
Diễn đàn gdptthegioi.org 

Read more…

Tưởng niệm cố Hoà Thượng Thích Hạnh Phát – Ân Sư, Cố Vấn Giáo Hạnh BHD GĐPT Cam Ranh

18:28 |


IMG 0053 Tưởng niệm cố Hoà Thượng Thích Hạnh Phát   Ân Sư, Cố Vấn Giáo Hạnh BHD GĐPT Cam Ranh

DI ẢNH HÒA THƯỢNG thượng HẠNH hạ PHÁT

(1929 – 1989)

Cách đây 25 năm (tính theo âm lịch), Hòa Thượng Thích Hạnh Phát nguyên là Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo Cam Ranh, ân sư cố vấn giáo hạnh BHD Gia Đình Phật Tử Cam Ranh, đã an nhiên thị tịch sau 61 năm trụ thế.
Suốt cuộc đời, Ngài không một niệm rời bỏ Đạo phong, Đạo hạnh của một bậc Sứ  giả Như Lai trong việc hoằng dương chánh pháp, dù có lúc chướng nạn bủa vây, tù tội oan khiên do các thế lực vô minh hãm hại.
Đối với Gia Đình Phật Tử  Cam Ranh, trên cương vị cố vấn giáo hạnh, Ngài đã hằng tận tâm giáo dưỡng, dìu dắt Lam viên vượt bão táp mưa sa vững bước trên đường Đạo với tinh thần Vô Úy.
Hôm nay, nhân húy nhật của Thầy, chúng con xin ôn lại tấm gương Đạo nghiệp sáng ngời của Ân sư, như một nén tâm hương dâng lên Giác Linh Hòa Thượng, tâm nguyện noi theo gương Ngài để kiên định  ý chí phụng sự  Chánh pháp, phụng sự  lý tưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam với tinh thần bất thối chuyển.
Nhân đây, chúng con thành kính niệm ân Đại Đức THÍCH TẾ ĐẠT, người Trưởng Tử của Hòa Thượng đang tiếp nối hạnh nguyện  ”thượng cầu Phật Đạo, hạ hóa chúng sanh” tại Chùa Hòa Thành – Cam Lâm. Đại Đức đã hoan hỷ cho phép chúng con sử dụng bài viết và hình ảnh tư  liệu về vị Bổn Sư  tôn quý của Đại Đức.

Tiểu sử  HÒA THƯỢNG THÍCH HẠNH PHÁT

IMG 0052 Tưởng niệm cố Hoà Thượng Thích Hạnh Phát   Ân Sư, Cố Vấn Giáo Hạnh BHD GĐPT Cam Ranh
Hòa thượng Thích Hạnh Phát, thế danh Huỳnh Văn Thiết, sinh ngày 09 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (nhằm ngày 18 tháng 02 năm 1929), tại xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Thân Phụ của Thầy là cụ Ông Huỳnh Văn Hải. Thân Mẫu là cụ Bà Đinh Thị Bền.
Thuở thiếu thời thường lui tới ngôi chùa làng do Phụ thân Ngài khai tạo và chủ trì, nhờ nhiều thuận duyên  nên căn cơ sớm khai mở. Ý nguyện xuất gia học Đạo đến với Ngài lúc 7 tuổi. Thấy được ý nguyện này nên thân phụ cho hành điệu từ đó. Tuy vào chùa lúc còn ít tuổi nhưng rất chuyên cần, sớm chiều hai buổi công phu học hỏi kệ kinh. Biết rõ ý chí xuất gia cao cả của Ngài nên cụ Ông nhờ Bà Nội đưa vào Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tại chùa chi hội Vạn Ninh. Lúc này Ngài đã được 9 tuổi. Mãi đến năm 15 tuổi Ngài được Hòa Thượng Huyền Chân, Chủ Tọa Liên Trì Tự nhận làm môn đồ, đặt pháp danh Thị Tấn. Đến ngày 15-12-1945 thọ Sa Di tại chùa Thiên Bửu, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Thượng tọa Thích Hải Đức làm Đàn Đầu.
6 năm sau, vì chùa Vạn Ninh chưa có Tỳ Kheo trú trì, theo nhu cầu Phật sự Ngài được Hòa Thượng Bổn Sư tạm đưa về trú trì ở đây, lúc Ngài vừa được 22 tuổi. Tuy mới là tân Sa Di nhưng vẫn điều hành công tác phật sự chùa Vạn Ninh trôi chảy, hướng dẫn Phật tử tín đồ đúng với chánh pháp trong tinh thần hòa hợp, từ bi hỷ xả. Nhưng với ý nguyện tu học cao cả của Ngài là phải được đào tạo căn bản nền giáo lý Phật Đà. Đến năm 24 tuổi Ngài thỉnh cầu Hòa Thượng Bổn Sư cho theo học khóa đào tạo Tăng tài, và đã vào Nha Trang tạm trú tại chùa Nghĩa Phương để theo học khòa Tăng tài tại Phật Học Viện Hải Đức.
Đến năm 1957, lúc Ngài tròn 28 tuổi, được tỉnh hội Phật Giáo Khánh Hòa giới thiệu đến Giới đàn Hải Đức tại chùa Hải Đức thọ Cụ Túc giới do Hòa Thượng Thuyền Tôn chủ đàn với Pháp hiệu Phước Huệ, Pháp Tự Hạnh Phát. Kể từ đó Ngài bắt đầu con đường sứ giả Như Lai hoằng dương chánh pháp.
Năm 1958, 29 tuổi được Giáo Hội Phật Giáo Khánh Hòa chính thức bổ nhiệm về trú trì tại chùa chi hội Phật Giáo Vạn Ninh.
Trong thời gian Phật sự tại đây, ngoài việc điều hành giáo hội, truyền bá giáo lý, hướng dẫn nghi lễ, Ngài còn thường xuyên đến các nơi các vùng chưa có ánh sáng đạo Phật rọi đến để thuyết giảng, xây dựng từng khuôn hội, Niệm Phật đường. Bởi thế, không bao lâu từ miền núi đến hải đảo, đồng bằng đến trung du trong huyện Vạn Ninh đa số hướng về với Phật giáo, lời kinh tiếng kệ vang khắp đó đây.
Ngài đã vận động Phật tử kẻ công người của xây dựng nên các ngôi chùa như: Chùa Hải Lương, chùa Lương Hải và nhất là chùa Đại Lãnh nơi mà công nhân viên chức hỏa xa được Ngài cảm hóa cùng xây dựng.
Nơi nào có bóng dáng Ngài là nơi ấy có tín đồ Phật tử biết hòa kính yêu thương một niềm chánh tín vào chánh pháp. Qua năng lực và đạo hạnh của Ngài đã đem lại một thành tựu lớn lao cho chi hội Phật Giáo Vạn Ninh, tỉnh hội Khánh Hòa một cách tốt đẹp.
IMG 0054 Tưởng niệm cố Hoà Thượng Thích Hạnh Phát   Ân Sư, Cố Vấn Giáo Hạnh BHD GĐPT Cam Ranh
Đến năm 1963, vì nhu cầu phật sự tại tỉnh giáo hội Phật Giáo Pleiku, Ngài được Phật Học Viện trung Phần bổ nhiệm làm chánh đại diện tỉnh hội Phật Giáo Pleiku. Với sự hăng say nhiệt tình của người tăng sĩ trẻ xuất thân từ Phật Học Viện, Ngài đã miệt mài đi truyền bá rồi thuyết giảng về các thôn xóm, buôn làng trong tỉnh. Đem đến một tình thương cao cả và lòng tin chánh tín cho tín đồ Phật Giáo tỉnh nhà. Nhưng vì khí hậu quá khắc nghiệt của Cao Nguyên không phù hợp với sức khỏe làm cho Ngài thường xuyên bệnh hoạn. Cuối năm ấy (có phái đoàn Phật giáo Trung Phần, Thầy Tâm Hộ làm trưởng đoàn) đến làm công tác Phật sự nơi này thấy vậy, sợ không bảo đảm được sức khỏe Ngài nên đề nghị Văn Phòng Phật Học Viện Trung Phần cho Ngài về dưỡng bệnh tại chùa chi hội Van Ninh.
Đầu năm 1964, Bác Bạch Cư Sĩ – đại diện Phật tử Cam Lâm – làm đơn thỉnh nguyện lên tỉnh Giáo Hội, mời đích danh Ngài và được Phật Học Viện Trung Phần bổ nhiệm làm Chánh đại diện Phật Giáo Chi Hội Cam Lâm, trụ trì chùa Phổ Hiền. Kể từ đó, Ngài gắn bó đạo tình với Tăng, Ni Phật tử Cam Ranh cho đến phút cuối cùng của cuộc đời.
Đến năm 1966,  Quận Cam Lâm được tách ra khỏi tỉnh Khánh Hòa và nâng lên thành Thị Xã Cam Ranh (cấp hành chánh tương đương cấp Tỉnh thời bấy giờ), Ngài được cử làm Chánh đại diện Phật Giáo thị xã Cam Ranh. Trong thời gian lãnh đạo GHPG Cam Ranh, Ngài đã cùng Tăng Ni tín đồ tham gia xuống đường bảo vệ Đạo Pháp trong thời kỳ pháp nạn, tiếp tục xây dựng cơ sở Phật Giáo theo hiến chương GHPG Việt Nam thống nhất.
Ngài đã động viên hộ trì các công trình xây dựng chùa Bình Tịnh – Cam Bình và khai sơn chùa Tây Thiên – Cam Phước.
Đứng ra gánh vác chức vụ Cố vấn giáo hạnh BHD Gia Đình Phật tử Cam Ranh, tổ chức thanh thiếu niên Phật tử nòng cốt của giáo hội.
Năm 1965, Ngài bắt đầu khai phá khu đồi Núi Một, là một ngọn đồi hoang vu, rậm rạp, một thời nổi tiếng hang hùm rắn dữ, nay là nơi nghỉ mát của Phật tử về tụng niệm và tu học. Đầu tiên Ngài đến khai hoang nơi này có đông Phật tử hưởng ứng phát động, nhờ sự tháo vát, nhanh nhẹn của thanh thiếu niên Gia Đình Phật Tử, sớm biến cảnh hoang vu ấy trở thành ngôi Bảo Tự Vạn Hạnh trang nghiêm thanh tịnh hôm nay.
Năm 1967, vì sức khỏe không cho phép, Ngài từ nhiệm Chánh Đại Diện về chùa Vạn Hạnh tiếp tục xây dựng, tu niệm.
Để phù hợp với sức khỏe Ngài, Tăng tín đồ Phật tử Cam Ranh cung thỉnh Ngài giữ chức vụ Đặc Ủy Tăng Sự. Nhưng rồi chỉ đến năm 1969, vì Phật sự chung Ngài lại tái giữ chức vụ Chánh Đại Diện Phật Giáo Thị xã Cam Ranh.
Vì nhu cầu thuyết giảng và củng cố hạ tầng cơ sở giáo hội, Ngài đã đi hết các miền, bất kể ngày đêm. Do vậy mà sức khỏe Ngài giảm sút, nên giữa năm 1970 lại phải nghỉ để dưỡng bệnh và chỉ nhận lãnh trách nhiệm đặc ủy Tăng sự.
IMG 0050 Tưởng niệm cố Hoà Thượng Thích Hạnh Phát   Ân Sư, Cố Vấn Giáo Hạnh BHD GĐPT Cam Ranh
Đến năm 1973,  Ngài được Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tấn phong lên hàng Thượng Tọa và cử tiếp tục giữ chức vụ  Chánh Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo thị xã Cam Ranh.
Sau năm 1975, có một quãng thời gian chướng nạn luôn vây bũa Thầy, bị vướng vào vòng lao lý đầy oan khuất,  nhưng Thầy vẫn an nhiên tự tại, giữ vững Đạo hạnh, Đạo phong của một bậc sứ giả Như Lai.
Đến tháng 3 năm 1989, trong hội nghị tổng kết Phật sự Huyện hội, Thượng tọa Thích Châu Quang và Đại đức Thích Giác Y xin từ nhiệm vì lý do sức khỏe. Giới thiệu Ngài đứng ra lãnh đạo giáo hội. Lần này tuy sức khỏe đã giảm sút nhiều, nhưng trước lòng ngưỡng mộ, tín nhiệm  của Tăng, Ni, tín đồ trong huyện, Ngài đã hoan hỷ nhận lời.
IMG 0056 Tưởng niệm cố Hoà Thượng Thích Hạnh Phát   Ân Sư, Cố Vấn Giáo Hạnh BHD GĐPT Cam Ranh
Nhưng chỉ hai ngày sau đại hội, Ngài đột ngột lâm trọng bệnh. Mặc dù được bác sĩ tận tình cứu chữa; Môn đồ,  Phật tử cận kề chăm sóc, nhưng bệnh tình không hề thuyên giảm. Biết thân tứ đại sắp trả về tứ đại, Ngài gọi môn đồ để dặn dò mọi việc và cho thỉnh chư Tăng để trao lời di chúc.
Và rồi vào lúc 20h30 ngày 16 tháng 2 năm Kỷ Tỵ (23-3-1989), Ngài  rời bỏ nhục thân để trở về nước Phật một cách an nhiên tự tại trong tiếng chuông trống Bát Nhã và tiếng niệm Phật, cầu kinh của Môn đồ, Phật tử…
Ngưỡng bạch Giác linh Hòa Thượng,
Suốt cả cuộc đời Ngài đã cống hiến cho Phật giáo, biểu hiện trọn vẹn Bi – Trí – Dũng. Đến như trong giờ phút cuối cùng, với Đạo hạnh của sứ giả Như Lai, lời di chúc vẫn thể hiện lấy hạnh Từ Bi mà phục vụ cho đời.
Ngài dạy: “Nếu còn sống thì dù sức khỏe thế nào tôi cũng tiếp tục chung lo Phật sự với giáo hội cùng quý Thầy và Đạo hữu. Theo luật vô thường, tôi bỏ thân tứ đại này, thì mong quý Thầy, quý Đạo hữu hãy đoàn kết, lấy tình thương và trí tuệ cùng chung lo xây dựng giáo hội bằng sự thực hành, tu học Giới Định Tuệ và thể hiện từ bi trong xã hội cho phù hợp với chánh pháp”.
Lời nói cuối của Ngài đến nay như vẫn vang vọng đâu đây, chúng con luôn vững tin rằng: Hòa Thượng mãi mãi ở bên chúng con, đang hướng dẫn chúng con qua khỏi lằn ranh mê vọng, giữa cuộc đời dục vọng u mê.
Nhân kỷ niệm húy nhật lần thứ 25 của Thầy, trong giờ phút trang nghiêm thanh tịnh niệm tưởng đến Thầy, chúng con ngưỡng mong Giác linh Hòa Thượng chứng giám cho tâm thành tri ân của chúng con.
Nam Mô Tự Lâm tế Chánh Tôn Tứ Thập Nhị Thế Khai Sơn Vạn Hạnh Tự.
Húy thượng Thị hạ Tấn, tự Hạnh Phát, hiệu Phước Huệ Hòa Thượng Chi Giác Linh.

(theo bài viết và hình ảnh tư liệu của Đại Đức THÍCH TẾ ĐẠT)

Read more…

Chú chuột lạy Phật lia lịa ở Thiền viện Trúc Lâm

09:51 |
Mới đây, tại Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm (hay còn gọi là chùa Cái Bầu, thuộc xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) bỗng xuất hiện một chú chuột nhắt kỳ lạ không biết từ đâu đến rồi chạy vào sân chùa, đứng thẳng người trên hai chân sau, hướng mặt vào cửa nhà chùa và chắp tay vái lạy Phật lia lịa.
Những người chứng kiến sự việc không khỏi ngạc nhiên và "ngưỡng mộ" hành động quái lạ nhưng cũng khá thú vị của chú chuột "đắc đạo" này. Người ta thử lấy một quả táo đặt bên cạnh, nhưng chú chuột vẫn "đoạn tuyệt" và "nói không với táo" mà chỉ biết chắp tay vái lạy liên tục.
Theo một số người, chú chuột kỳ lạ này rất dạn, không biết sợ như những con chuột bình thường khác. Khi có người, chó, thậm chí cả mèo đến gần nhưng chú vẫn tỏ ra "bình thản" và cứ chắp tay lạy, lạy và lạy trong lúc tiếng tụng kinh niệm Phật ở chùa vang lên.
Được biết, Thiền viện Trúc lâm Giác Tâm được xây dựng trên nền chùa Phúc Linh Tự có từ thời Trần, cách đây hơn 700 năm. Sự việc kỳ lạ trên chưa từng xảy ra hoặc chưa từng được phát hiện trong lịch sử của ngôi chùa này.
Read more…

10:30 |

Năm hết tết đến, nhà nhà bắt đầu thay tờ lịch cũ bằng tờ lịch mới. Tờ lịch mới sẽ càng đẹp và ý nghĩa hơn nếu có hình tượng chư Phật tràn đầy đạo vị đem đến cho mọi thành viên trong gia đình thân tâm an lạc.
 Di Lặc Bồ tát nghênh xuân: Bụng lớn từ bi, tâm hoan hỷ/Sáu trẻ nghịch đùa với vô vi/Long Hoa mở hội, dân hạnh phúc/Thái bình hòa ca khúc xuân thì/Nam Mô Long Hoa giáo chủ Di Lặc Tôn Phật.
Cửu phẩm Liên hoa: Chín phẩm sen sanh ngàn đồng tử/Tâm trong, nghiệp tịnh, niệm Di Đà/Sớm chiều vui tu cùng bạn lữ/Luân hồi lục đạo chẳng vào ra/Nam Mô Liên Trì Hội Thượng Phật Bồ Tát
Phổ Hiền Bồ tát hạnh nguyện: An nhiên tĩnh toạ tâm thanh tịnh/Văn hay chữ tốt sách tấn tu/Đại hạnh từ nghiêm tròn thập nguyện/Vững chí bền tâm thoát ái hà/Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
Văn Thù Bồ tát: Đảnh tụ hào quang như vầng nhật/Dụng gương trí huệ trảm vô minh/Đoan tọa thanh sư du thập xứ/Truyền thế Như Lai minh huấn từ/Nam Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Lục cúng: Hương, hoa, quả, nhạc, trà, đèn/Trang nghiêm dâng trước đài sen cúng dường/Ngưỡng mong chư Phật mười phương/Từ bi trụ thế mở đường độ sanh.
Đại Kim Cang Diệu Khổng Tước Minh Vương Bồ Tát: Khổng tước chim thiêng thân sắc vàng/Lưng cõng Phật Bà dạo thế gian/Chân đạp hà sa vô minh giới/Đưa người trở lại chốn Tây phang/Nam Mô Đại Kim Cang Diệu Khổng Tước Minh Vương Bồ Tát.
 Vi Đà hộ pháp: Vi Đà Thiên tướng mạo đường đường/Hào quang kim giáp phóng tam châu/Lưỡng thủ chắp trì Kim Cang kiếm/Tề ác phò chơn trấn đạo tràng/Nam Mô Tam Châu Cảm Ứng Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát.
 Địa tạng Bồ tát độ Tam đồ: Châu sáng tròn vành soi ngục tối/Trượng vàng dộng phá pháp tam tâm/Vạn loài ngạ quỷ nương từ bóng/Tây phương trực chỉ thoát luân hồi/Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát.
 Đại Thế chí Bồ tát tiếp dẫn Tây phương: Phổ từ thị hóa chúng sanh/Đại khai giác ngộ trở thành Phật vương/Liên đài tỏa ngát thiền hương/Tây phương Thế Chí dẫn đường vãng sanh/Nam Mô Đại Hùng Đại Lực Đại Thế Chí Bồ Tát.
Thiện ác nhân quả: Thế gian vạn sự chẳng thường bền/Vì bởi nghiệp trần mãi xuống lên/Kiếp sống gieo nhơn sau hái quả/Tội đày, phước hưởng, tại mình ên/Nam Mô A Di Đà Phật.
 Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư: Lìa bỏ cao sang cùng danh vọng/Gậy hài một chiếc tiến Đông đô/Mở nẻo thiền từ về Tây trúc/Sanh tử hai đường nhân duyên chọn/Hành giả hiểu rồi sách tấn tu/Nam Mô Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư.
Đồng tâm cầu nguyện hòa bình thế giới: Đạo chơn thật là đạo cứu đời/Bất kể sắc hình từ khắp nơi/Đồng tâm liên hợp cùng cầu nguyện/Thế giới hòa bình, nạn kiếp vơi/Nam Mô A Di Đà Phật.
Read more…

Khoáng Đại Công Cử Thành Phần Nhân Sự

19:40 |

Khoáng đại công cử thành phần nhân sự Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Việt Nam Trên Thế Giới nhiệm kỳ 2012-2016 trong Đại Hội GĐPTVN Trên Thế Giới kỳ III vào những ngày 27,28,29,30,31/10/2012 tại Bangkok, Thái Lan

Quang cảnh hội trường

Thuyết trình cơ cấu và thể lệ bầu cử

Quan khách thăm viếng đại hội

Dr. Pornchai Pinyapong chủ tịch thanh niên Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới nhận phù hiệi đại hội

Trao quà lưu niệm

Kiểm phiếu

Phái đoàn Âu Châu

Biểu quyết

Tân Ban Hướng Dẫn GĐPTVN Trên Thế Giới nhiệm kỳ 2012-2016 trình diện chư tôn đức
Read more…

Khai Mạc Đại Hội GĐPTVN Trên Thế Giới Kỳ III

22:08 |

Read more…